Cây Cóc mẳn trong dân gian còn được gọi là cỏ the, cúc mẳn, cúc ma, cây thuốc mộng, cây trăm chân, cóc ngồi (miền Nam); thạch hồ tuy, địa hồ tiêu, cầu tử thảo, nga bất thực thảo…có vị cay, tính ấm, không có độc. Cây cóc mẳn được biết đến với công dụng giúp trừ phong, tán hàn, tiêu viêm, giải độc, thông mũi họng và ngoài ra còn giúp trị chốc lở, eczema, rắn cắn…Sau đây là một số bài thuốc từ cây cóc mẳn mời bà con tham khảo.
Keo dậu hay còn gọi là bồ kết dại, keo giậu, bình linh, táo nhơn, keo giun, bò chét.…có vị hơi đắng, mùi thơm, tính mát. Hạt của loại cây này thường được sử dụng để trị chứng nhiễm giun đũa, hỗ trợ điều trị tiểu đường và yếu sinh lý. Tuy nhiên cây có chứa độc tố không nên dùng liều cao hoặc sử dụng dài ngày. Sau đây là một số công dụng và cách chữa bệnh từ cây keo dậu mời bà con tham khảo.
Cây lựu hay còn gọi là thạch lựu, thừa lựu, tháp lựu, an thạch lựu, toan thạch lựu, thiên tương, thạch lựu bì (vỏ của quả lựu)… có vị chua ngọt, tính ấm. Cây lựu là vị thuốc quý trong y học cổ truyền với công năng chữa trị bệnh thần kỳ. Quả, vỏ rễ và vỏ thân của cây đều có tác dụng dược lý đa dạng. Dưới đây là một số bài thuốc chữa bệnh từ cây lựu mời bà con tham khảo.
Rau sam hay còn gọi là mã xỉ hiện. mã xỉ thái, trường thọ thái,… có vị chua, không độc, có tính lạnh. Ngoài công dụng là loại thực phẩm giàu giá trị dinh dưỡng, cây rau sam còn là dược phẩm với nhiều công dụng đối với sức khỏe con người. Theo kinh nghiệm của dân gian, cây rau sam được sử dụng trong các bài thuốc cụ thể sau:
Cây ba đậu còn được gọi là ba đậu hay mần để... có vị cay, tính nóng và có độc. Ba đậu là một loại dược liệu được sử dụng trong khá nhiều bài thuốc nhưng lại chứa hàm lượng độc tố rất cao. Chính vì thế khi sử dụng vị thuốc này bạn cần hết sức thận trọng để tránh bị ngộ. Dưới đây một số đơn thuốc có sử dụng dược liệu ba đậu mời bà con tham khảo.
Cây dạ cẩm còn có tên gọi khác là loét mồm, chạm khẩu cắm, đất lượt, đứt lướt, cây loét miệng, dây ngón cái hay cây ngón lợn,… có tính bình, vị ngọt cũng như hơi đắng. Cây dạ cẩm là vị thuốc dân gian quen thuộc nay được nghiên cứu và bào chế thành nhiều sản phẩm đông dược khác chăm sóc sức khỏe của con người. Sau đây là một số bài thuốc hữu ích nhất từ loại cây đặc biệt này.
Bí đỏ còn có tên gọi khác là bí rợ, bí ngô... có vị ngọt, tính hơi ôn. Toàn bộ cây bí đỏ có thể vừa làm rau vừa làm thuốc chữa được nhiều chứng bệnh hiệu quả... Sau đây là một số công dụng chữa bệnh từ cây bí đỏ mời các bạn tham khảo.
Hoa giấy hay còn gọi là bông giấy, biện lý. Theo y học cổ truyền, hoa giấy có vị đắng, mặn, tính ấm, có tác dụng điều kinh, hòa huyết. Trong y học hiện đại, lá cây hoa giấy giúp kháng viêm, chống loét, kháng khuẩn...Sau đây là một số bài thuốc từ hoa giấy đơn giản và dễ thực hiện mời các bạn tham khảo.
Táo mèo hay còn gọi là táo mèo, bắc sơn tra, nam sơn tra, dã sơn tra...có vị chua ngọt, tính hơi ấm. Từ lâu đã được dân gian sử dụng như một vị thuốc quý để chữa các bệnh gan nhiễm mỡ, tăng huyết áp, viêm khớp, đau đầu mạn tính, viêm xoang, mất ngủ…Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh từ táo mèo.
Cây ngô thù du hay còn được gọi với cái tên là ngô vu, thù du, ngô thù...có vị đắng, tính ôn và hơi có độc tính. Phần quả của cây ngô thù du được sử dụng rất phổ biến để làm dược liệu chữa bệnh. Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh có sử dụng dược liệu ngô thù du mời các bạn tham khảo.
Hoắc hương hay còn có tên gọi khác là thổ hoắc hương, quảng hoắc hương,.. có vị ngọt đắng, hơi cay, mùi thơm đặc trưng tính ôn. Dù xuất hiện khá phổ biến trong tự nhiên nhưng vẫn có không ít người dùng biết đến sự tồn tại của cây thuốc hoắc hương. Hầu như các bộ phận của hoắc hương đều được sử dụng làm dược liệu. Sau đây là một số bài thuốc quý từ cây hoắc hương mời bà con tham khảo.
Đại hồi còn được gọi là hồi, hồi sao, đại hồi hương, tai vị, bác giác hồi hương (quả chín phơi khô )... có vị ngọt, cay, có mùi thơm, tính ấm. Đại hồi là dược liệu được sử dụng trong y học hiện đại và y học cổ truyền với nhiều công dụng như kiện tỳ vị, mạnh gân xương, điều trị đau nhức xương khớp... Sau đây là một số bài thuốc từ đại hồi.
Na còn có tên gọi khác là mãng cầu ta, mãng cầu dai/giai, sa lê, phan lệ chi… có vị ngọt, hơi chua, tính ẩm. Là một loại quả giàu canxi, magiê, sắt, niacin và kali, giàu chất chống oxy hóa... Quả na không chỉ là loại trái cây thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng, mà các bộ phận của cây na đều có tác dụng chữa rất nhiều bệnh. Dưới đây là một số bài thuốc chữa bệnh tuyệt vời từ cây na mời bà con tham khảo.
Cây rẻ quạt hay còn gọi là cây xạ can hay cây lưỡi đồng...có vị đắng và tính hàn, hơi độc. Là một loại cây thuốc dùng lá và củ, rễ làm thuốc chữa bệnh. Trong dân gian, có khá nhiều cách chữa viêm họng hạt bằng cây rẻ quạt, có thể dùng riêng cây thuốc hoặc kết hợp với các loại dược liệu khác nhau. Sau đây là những bài thuốc có sử dụng cây rẻ quạt.
Tam thất bắc hay còn gọi là sâm tam thất, thổ sâm, kim bát hoàn, kim bất hoán có vị đắng hơi ngọt, tính ôn. Theo các tài liệu cổ, tam thất bắc là vị thuốc nam quý hiếm có tác dụng bồi bổ sức khỏe cơ thể, sánh ngang với nhân sâm. Dưới đây là một số bài thuốc chữa bệnh hiệu quả từ tâm thất bắc mời bà con tham khảo.
Bầu đất còn có tên khác là kim thất, rau lúi, thiên hắc địa hồng, dây chua lè, rau bầu đất…có vị đắng thơm, tính mát. Bầu đất không chỉ là một loại rau ăn mà còn là một vị thuốc chữa bệnh. Vậy cây bầu đất có tác dụng gì trong chữa bệnh, mời bà con tham khảo những bài thuốc sau đây.
Cây trâu cổ còn có tên gọi khác là vương bất lưu hành, vảy ốc, cây xộp, trâu cổ, bị lệ, cơm lênh, mộc liên, sung thằn lằn, bất lưu hành, vương lưu…có vị ngọt, chát, tính bình. Cây trâu cổ thường sinh trưởng trên các vách đá ở khắp các vùng núi phía bắc của nước ta. Là một vị thuốc được sử dụng từ rất lâu trong dân gian. Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh có sử dụng cây trâu cổ mời bà con tham khảo.
Phèn đen còn có tên gọi khác là mực, mỗ, tạo phan dệp, chè nộc, diệp hạ châu mạng… có vị chát, tính mát. Là một loại cây quý phèn đen được người dân sử dụng như một bài thuốc trị nhiều căn bệnh, trong đó có không ít căn bệnh khó chữa, được xem là một trong những vị thuốc vô cùng quý giá trong dân gian từ xưa đến nay. Sau đây xin giới thiệu một số bài thuốc chữa bệnh tiêu biểu từ cây phèn đen.
Cây ổi còn có tên gọi khác là phan thạch lựu, là ủi, mác ổi, mù úy piếu,… có tính ấm, vị ngọt hơi chua sáp. Cây ổi là loại cây ăn quả rất phổ biến, quen thuộc tại Việt Nam. Tuy nhiên, ít ai biết rằng các bộ phận của cây ổi như lá ổi, quả ổi,… lại là những thảo dược được sử dụng trong điều trị nhiều bệnh lý về tiêu hóa, viêm ruột cấp, tiêu chảy, kiết lỵ,… cho hiệu quả rất tốt. Sau đây là một số bài thuốc từ cây ổi mời bà con tham khảo.
Nhót có tên khác là hồ đồi tử, cây lót (Trung Bộ), co lót (dân tộc Thái)... có vị chua, chát, tính bình. Nhót là một loại cây chứa nhiều dinh dưỡng, có thể tận dụng tất cả các bộ phận của cây để làm thành bài thuốc. Từ lâu trong dân gian đã lưu truyền nhiều bài thuốc hay chữa bệnh hiệu quả từ cây nhót mời bà con tham khảo.