Analytic
Thứ Sáu, ngày 23 tháng 08 năm 2019, 09:25:27

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội

PV - 17:35, 04/12/2023

Sáng 4/12, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính truyền đạt chuyên đề: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính truyền đạt chuyên đề: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính truyền đạt chuyên đề: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương đã bám sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp, các quan điểm và định hướng của Đảng về chính sách xã hội qua các kỳ Đại hội, nhất là Đại hội XIII và kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 một số vấn đề về chính sách xã hội, dành nhiều thời gian thảo luận một cách dân chủ và đã thống nhất cao ban hành Nghị quyết mới (Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023) về "Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới".

Trình bày chuyên đề về nội dung này tại Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính tập trung vào một số vấn đề trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết, với 5 nội dung chính: Các yếu tố nền tảng của chính sách xã hội; đánh giá khái quát 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012; sự cần thiết ban hành Nghị quyết về đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội; những nội dung chính của Nghị quyết số 42-NQ/TW; những điểm mới nổi bật của Nghị quyết số 42-NQ/TW.

Những yếu tố nền tảng của chính sách xã hội

Về những yếu tố nền tảng của chính sách xã hội, Thủ tướng nêu rõ, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã tổng kết 5 bài học chủ yếu: (1) Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; (2) Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; (3) Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết (đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế); (4) Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; (5) Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Cùng với đó, tập trung xây dựng 3 yếu tố nền tảng: (1) Nền dân chủ XHCN, phát huy ý chí và sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; (2) Nhà nước pháp quyền XHCN - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; (3) Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xác định rõ: "Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".

(Tin dẫn) Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội 1

Dành thời gian phân tích chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về một số lĩnh vực trụ cột (xây dựng Đảng, phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại, quốc phòng-an ninh, văn hóa), Thủ tướng nêu rõ, Đại hội XIII của Đảng xác định rõ 3 đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng; trong đó nguồn nhân lực được xác định là yếu tố then chốt cho phát triển bền vững.

Theo Thủ tướng, tất cả các yếu tố nền tảng nêu trên đều liên quan đến con người, đến nhân dân. Nguyên tắc xuyên suốt: Con người là trung tâm của chính sách xã hội - tất cả vì con người, vì nhân dân. Lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển; không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần

Chính sách là chính sách chăm lo cho con người; là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội; thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm chính sách xã hội; tạo điều kiện để nhân dân thụ hưởng thành quả của sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo Thủ tướng, đây là lĩnh vực lớn, phạm vi rộng, có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng đến tất cả các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội, được triển khai ở tất cả các cấp, các ngành, các địa phương.

Dành 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho chính sách xã hội

Thủ tướng khẳng định, sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 15 về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, chúng ta đã cơ bản đạt được mục tiêu tổng quát đã đề ra.

Cụ thể, thứ nhất, chính sách ưu đãi, tôn vinh người có công với cách mạng được đặc biệt quan tâm và thực hiện tốt. Đối tượng người có công với cách mạng được mở rộng với chế độ và chính sách ưu đãi phù hợp. Hiện có trên 1,2 triệu người có công và thân nhân đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng; 98,6% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình trên địa bàn.

Thứ hai, việc bảo đảm an sinh xã hội chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh của công dân. Số người hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tăng hằng năm và đạt 3,3 triệu người năm 2022. Trong 3 năm phòng, chống dịch Covid-19, đã hỗ trợ với số tiền trên 120.000 tỷ đồng và trên 200.000 tấn gạo hỗ trợ cho trên 68 triệu lượt người dân, người lao động gặp khó khăn.

Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, đồng thời huy động, phát huy vai trò quan trọng của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, thị trường và ý chí tự lực, tự cường của người dân. Đã dành nguồn lực khoảng 20% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho chính sách xã hội.

Thể chế về thị trường lao động từng bước được hoàn thiện; cơ bản bảo đảm cung cầu lao động. Tỷ lệ thất nghiệp ổn định dưới 3%, thất nghiệp thành thị dưới 4%.

Thứ ba, công tác giảm nghèo đạt kết quả nổi bật; đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo từ gần 60% vào năm 1986 giảm xuống còn dưới 3% vào năm 2022. GDP bình quân đầu người tăng từ 86 USD năm 1986 lên 4.110 USD năm 2022.

Việt Nam về đích trước thời hạn theo mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và Phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc; là điểm sáng trong toàn cầu, được nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Thứ tư, diện bao phủ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp không ngừng được mở rộng. Năm 2022, tỉ lệ tham gia BHXH đạt 38,08% và bảo hiểm thất nghiệp đạt 31,18% lực lượng lao động trong độ tuổi; tỉ lệ tham gia BHXH tự nguyện ngày càng tăng (đến nay đạt 1,46 triệu người).

Thứ năm, người dân tiếp cận ngày càng tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản. Về giáo dục, trẻ em đi học đúng tuổi cấp tiểu học đạt 99% từ năm 2015, cấp trung học cơ sở đạt trên 95% từ năm 2020.

Năm 2022, 92% người dân tham gia BHYT; 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ... Về nhà ở, đến năm 2020, đã hỗ trợ chỗ ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 323.000 căn nhà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Đến năm 2021, 90% người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.

Về tiếp cận thông tin, năm 2016, 100% xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo được phủ sóng phát thanh và truyền hình mặt đất; đến năm 2020, 100% các xã có đài truyền thanh...

Đánh giá chung, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân khắp mọi miền đất nước được nâng lên rõ rệt; diện mạo xã hội thay đổi căn bản; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; kinh tế, xã hội phát triển toàn diện và hài hòa hơn; đem lại sự hài lòng và củng cố niềm tin của người dân, khẳng định tính ưu việt của chế độ XHCN ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Về những hạn chế, bất cập, Thủ tướng nêu rõ, phạm vi bao phủ và khả năng giải quyết rủi ro của các chính sách xã hội còn thấp; kết quả giảm nghèo có nơi, có lúc chưa vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn cao; thị trường lao động phát triển chưa thực sự đồng bộ, đột phá về nguồn nhân lực chuyển biến chưa rõ nét, nhất là nhân lực chất lượng cao; các dịch vụ xã hội cơ bản chưa đáp ứng tốt nhu cầu của người dân; năng lực và nguồn lực bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu còn hạn chế…

Lựa chọn mô hình chính sách xã hội phù hợp với đặc điểm, điều kiện, hoàn cảnh đất nước

Sau khi phân tích về nguyên nhân của những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập, một số bài học kinh nghiệm, Thủ tướng cho rằng tình hình thế giới thời gian tới dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường.

Trong nước, nền kinh tế tiếp tục chịu "tác động kép" từ những yếu tố bất lợi bên ngoài và những hạn chế, bất cập bên trong. Chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn về quản lý phát triển xã hội (như vấn đề nhà ở, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, quá tải hạ tầng, tình trạng thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, già hóa dân số, rủi ro về an ninh, trật tự, an toàn xã hội...).

Tốc độ già hóa dân số tăng nhanh đặt ra những thách thức lớn trong bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi và nguồn cung lao động. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến khó lường, gây hậu quả nặng nề, Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất từ biến đổi khí hậu toàn cầu.

Về sự cần thiết ban hành Nghị quyết mới về đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, Thủ tướng cho biết sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 15, chúng ta cơ bản đã đạt được mục tiêu tổng quát đã đề ra; tuy nhiên vẫn còn những hạn chế, bất cập cần tập trung khắc phục, giải quyết trong thời gian sớm nhất.

Cùng với đó, yêu cầu đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn mới đòi hỏi phải tiếp tục mở rộng, đổi mới và nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Bối cảnh mới và thực tiễn quản lý phát triển xã hội đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện, xây dựng chính sách an sinh xã hội toàn diện hơn, đa tầng hơn, hiện đại hơn, bao trùm và bền vững hơn, bảo đảm an sinh, an ninh, an dân, nhất là trước những cú sốc và nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Cùng với sự phát triển của đất nước, nhu cầu của nhân dân về thụ hưởng các chính sách xã hội ngày càng cao hơn cả về số lượng và chất lượng, trong đó có tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Nghị quyết Đại hội XIII yêu cầu nhận thức đầy đủ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới, phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa.

Phân tích về một số mô hình chính sách xã hội điển hình trên thế giới hiện nay, Thủ tướng nêu rõ, chúng ta lựa chọn mô hình chính sách xã hội phù hợp với đặc điểm, điều kiện, hoàn cảnh nước ta.

9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mang tính tổng thể, hệ thống, toàn diện

Trình bày những nội dung chính của Nghị quyết 42 (về quan điểm; mục tiêu và tầm nhìn; nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu; tổ chức thực hiện), Thủ tướng đồng thời chỉ rõ những điểm mới nổi bật của Nghị quyết này.

Về cách tiếp cận và tên gọi, Nghị quyết 42 có sự điều chỉnh về tiếp cận, từ bảo đảm và ổn định sang ổn định và phát triển; gắn với quản lý phát triển xã hội bền vững, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, an ninh xã hội.

Nghị quyết kết hợp hài hòa giữa tiếp tục bảo đảm an sinh xã hội, các chính sách xã hội khác để bảo đảm ổn định xã hội, đồng thời tập trung cho phát triển, tiến bộ xã hội thông qua phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực, phát triển tầng lớp trung lưu gắn với quản lý phát triển xã hội bền vững và làm động lực phát triển kinh tế, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trên cơ sở đó, tên gọi của Nghị quyết số 42 được xác định là "tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới" (Nghị quyết 15 của Trung ương có tên gọi là "một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020").

Về phạm vi, Nghị quyết 42 đã mở rộng ra toàn bộ các nhóm chính sách xã hội cho tất cả các đối tượng trên nguyên tắc bảo đảm tính toàn dân, toàn diện, bao gồm 5 nhóm: (1) Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; (2) Chính sách lao động, việc làm, phát triển nguồn nhân lực; (3) Chính sách bảo đảm an sinh xã hội; (4) Chính sách về nâng cao phúc lợi xã hội và bảo đảm tiếp cận dịch vụ xã hội; (5) Chính sách đối với nhóm yếu thế, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người có hoàn cảnh khó khăn ở vùng sâu, vùng xa.

Về quan điểm, Nghị quyết 42 đưa ra 4 nhóm quan điểm vừa có tính kế thừa, phát huy, vừa có tính đổi mới, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Nghị quyết 42 nhấn mạnh một số quan điểm sau: Đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội theo hướng toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững; chính sách xã hội phải đặt trong tổng thể quản lý phát triển xã hội bền vững; giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, chăm lo con người và vì con người; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm chính sách xã hội; đầu tư cho chính sách xã hội là đầu tư cho phát triển; đổi mới công tác quản lý Nhà nước; tăng cường phân cấp, phân quyền. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân; động viên sự tham gia tích cực của nhân dân, doanh nghiệp; khơi dậy khát vọng phát triển, ý chí tự lực, tự cường, phát huy truyền thống, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về mục tiêu và tầm nhìn, Nghị quyết 42 xác định rõ mục tiêu tổng quát đến năm 2030: Xây dựng hệ thống chính sách xã hội theo hướng bền vững, tiến bộ và công bằng; hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững; phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiệu quả, hội nhập quốc tế. Đồng thời, đưa ra 37 chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030.

Nghị quyết xác định tầm nhìn đến năm 2045: Hệ thống chính sách xã hội phát triển toàn diện, bền vững, tiến bộ và công bằng, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho nhân dân; nằm trong nhóm quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) cao trên thế giới.

Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trên cơ sở kế thừa các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể nêu tại Nghị quyết 15 và để bảo đảm thực hiện các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết 42 đưa ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mang tính tổng thể, hệ thống, toàn diện về: Nâng cao nhận thức; nâng cao hiệu lực, hiệu lực quản lý nhà nước; chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; lao động, việc làm; an sinh xã hội; phúc lợi xã hội; dịch vụ xã hội; hợp tác quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong thực hiện chính sách xã hội. Trong khi đó, Nghị quyết 15 tập trung vào 3 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu (về chính sách ưu đãi người có công, bảo đảm an sinh xã hội và giải pháp thực hiện).

Thủ tướng chỉ rõ một số điểm trọng tâm cần lưu ý trong Nghị quyết 42: Tập trung xây dựng và phát triển thị trường lao động linh hoạt, đa dạng, hiệu quả, bền vững và hội nhập (bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực). Bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường).

Về xây dựng nhà ở xã hội, đáng lưu ý là Đề án xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội đến năm 2030; xóa bỏ nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, cận nghèo, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai… Thủ tướng cho biết, Chính phủ đang triển khai thí điểm việc này tại Hà Giang, Cao Bằng và phấn đấu trong nhiệm kỳ này sẽ hoàn thành việc xóa bỏ nhà tạm, nhà dột nát.

Cùng với đó, xây dựng Khung quốc gia về thích ứng già hóa dân số và điều chỉnh tỉ suất sinh thay thế. Phấn đấu Việt Nam là quốc gia tiên phong trong Chương trình thúc đẩy toàn cầu về việc làm và an sinh xã hội hướng đến chuyển đổi công bằng theo sáng kiến của Liên hợp quốc và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).

Thủ tướng nhắc lại, tại Phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 8, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: "Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, vì con người, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Xây dựng và thực hiện chính sách xã hội phải luôn lấy con người làm trung tâm; coi đầu tư cho thực hiện các mục tiêu chính sách xã hội là đầu tư cho phát triển".

Ý kiến độc giả
Mã bảo mật
Tin nổi bật trang chủ
Tạo sự linh hoạt, chủ động từ cơ chế, chính sách đặc thù

Tạo sự linh hoạt, chủ động từ cơ chế, chính sách đặc thù

Vừa qua (ngày 18/1/2024), Quốc hội thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia gồm: Xây dựng nông thôn mới; Giảm nghèo bền vững; Phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai giai đoạn 2021-2025. Nghị quyết được ban hành với 8 cơ chế, chính sách đặc thù được đánh giá sẽ tháo gỡ nhiều vướng mắc về cơ chế, tăng cường phân cấp, phân quyền tạo sự linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu quả các Chương trình.
Tin trong ngày - 27/2/2024

Tin trong ngày - 27/2/2024

Media - BDT - 20:00, 27/02/2024
Bản tin trong ngày của Báo Dân tộc và Phát triển, ngày 27/2, có những thông tin đáng chú ý sau: Tôn vinh Thầy thuốc Việt Nam và trao giải cuộc thi viết. "Sự hy sinh thầm lặng". Phục dựng hội đu tiên truyền thống Phú Gia. Giữ gìn làng nghề làm nón lá truyền thống Xuân Lộc. Cùng các tin tức thời sự khác trong vùng đồng bào DTTS và miền núi
Du khách ấn tượng với Lễ hội Lồng tồng của đồng bào Tày, Nùng tỉnh Thái Nguyên tại

Du khách ấn tượng với Lễ hội Lồng tồng của đồng bào Tày, Nùng tỉnh Thái Nguyên tại "Ngôi nhà chung"

Sắc màu 54 - Thúy Hồng - 19:08, 27/02/2024
Vừa qua, tại "Ngôi nhà chung" - Làng Văn hóa - Du lịch các Dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) đã tái hiện Lễ hội Lồng tồng của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng tỉnh Thái Nguyên.
Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS gắn với phát triển du lịch cộng đồng ở Quỳ Châu

Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS gắn với phát triển du lịch cộng đồng ở Quỳ Châu

Sắc màu 54 - Nguyễn Thanh - 19:04, 27/02/2024
Quỳ Châu là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Nghệ An, với 80% là đồng bào DTTS, trong đó chủ yếu là dân tộc Thái. Người Thái ở Quỳ Châu hiện nay còn lưu giữ được nhiều giá trị bản sắc văn hóa truyền thống. Đó là những cơ sở quan trọng để huyện đẩy mạnh phát triển du lịch từ các giá trị văn hóa. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng được đặt ra tại Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2020-2025.
Các công trình đầu tư làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào DTTS ở Đăk Tô

Các công trình đầu tư làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào DTTS ở Đăk Tô

Công tác Dân tộc - Ngọc Chí - 19:00, 27/02/2024
Những công trình giao thông, trường học, nước sinh hoạt được đầu tư từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 (gọi tắt là Chương trình MTQG 1719) đã và đang phát huy hiệu quả, giúp đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở huyện Đăk Tô (Kon Tum) có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống.
Hoa ban nở rộ tô điểm vẻ đẹp phố phường Hà Nội

Hoa ban nở rộ tô điểm vẻ đẹp phố phường Hà Nội

Sắc màu 54 - Tào Đạt - Quang Anh - 18:49, 27/02/2024
Mỗi dịp xuân về (thường bắt đầu từ tháng 2 kéo dài đến hết tháng 3), dọc các tuyến đường Hoàng Diệu, Bắc Sơn, Thanh Niên, Yên Phụ (Hà Nội) lại được nhuộm tím bởi hàng hoa ban đang nở rộ mang hương sắc của núi rừng Tây Bắc.
Tin trong ngày - 26/2/2024

Tin trong ngày - 26/2/2024

Bản tin trong ngày của Báo Dân tộc và Phát triển, ngày 26/2, có những thông tin đáng chú ý sau: Nhiều công trình, phần việc ý nghĩa được triển khai trong chương trình “Tháng Ba biên giới” 2024. Lễ hội Vua Hùng dạy dân cấy lúa. Tình yêu với y học dân tộc của nữ bác sĩ trẻ. Cùng các tin tức thời sự khác trong vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Gia Lai: Nguy cơ cháy rừng rất cao ở nhiều địa phương

Gia Lai: Nguy cơ cháy rừng rất cao ở nhiều địa phương

Trang địa phương - Ngọc Thu - 18:45, 27/02/2024
Tây Nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng đang bước vào cao điểm mùa khô, nắng nóng kéo dài tiềm ẩn nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao. Vì vậy, các địa phương, đơn vị, chủ rừng đã nắm bắt tình hình, tổ chức triển khai đồng bộ nhiều giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng, hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.

"Sống lại" làng gốm cổ Thanh Hà 500 năm tuổi

Nghề nghiệp - Việc làm - T.Nhân-H.Trường - 18:42, 27/02/2024
Cách phố cổ Hội An chừng 2km về hướng Tây, làng gốm Thanh Hà (phường Thanh Hà, TP.Hội An, Quảng Nam) nép mình bên dòng sông Thu Bồn thơ mộng. Hơn 500 năm tồn tại và phát triển, có lúc sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, làng gốm này cũng tưởng chừng rơi vào vào quên lãng. Tuy nhiên, với lòng yêu nghề, sự quyết tâm của các nghệ nhân đã làm “sống lại” làng nghề truyền thống ở xứ Quảng này. Đặc biệt, làng gốm Thanh Hà hiện nay đã trở thành địa danh nổi tiếng thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước.
Văn xuôi lấn át thơ tại Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2023

Văn xuôi lấn át thơ tại Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2023

Tin tức - Thanh Thuận - 18:39, 27/02/2024
Ngày 27/2, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Lễ trao giải thưởng hàng năm Hội Nhà văn Việt Nam năm 2023, giải thưởng Tác giả trẻ 2023 và Tổng kết đợt 1 cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài thiếu nhi.
Ninh Bình: Cảnh giác với chiêu trò mạo danh lãnh đạo Sở TT&TT và Công an tỉnh gọi điện lừa đảo

Ninh Bình: Cảnh giác với chiêu trò mạo danh lãnh đạo Sở TT&TT và Công an tỉnh gọi điện lừa đảo

Tin tức - Thiên An - 18:15, 27/02/2024
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình xuất hiện một số đối tượng sử dụng số điện thoại lạ và mạo danh lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT), Công an tỉnh Ninh Bình gọi điện lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản.
Hội đồng Khoa học và Công nghệ Ủy ban Dân tộc họp phiên thứ nhất

Hội đồng Khoa học và Công nghệ Ủy ban Dân tộc họp phiên thứ nhất

Công tác Dân tộc - Hoàng Quý - 18:06, 27/02/2024
Ngày 27/2, tại Hà Nội, Hội đồng Khoa học và Công nghệ Ủy ban Dân tộc đã tổ chức phiên họp Hội đồng lần thứ nhất. Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Nông Thị Hà - Chủ tịch Hội đồng, chủ trì phiên họp.